TỔNG QUAN BỆNH HÉO VÀNG LÁ TRÊN CHUỐI (Musa spp.)- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU GẦN ĐÂY
Bùi Chí Bửu
Ngày 26 tháng 7 năm 2026
Ngày 26 tháng 7 năm 2026
Chuối (Musa spp.) được trồng ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới, thuộc khu vực Đông Nam Á, châu Phi, Nam Mỹ, là nguồn cung cấp kali quan trọng, số lượng xuất khẩu ổn định và là thực phẩm quan trọng cho hàng triệu người đang sống ở các nước phát triển.
Chi Musa có khoảng 75 loài và nhiều dòng vô tính có thể ăn được; xét theo bộ tiêu chuẩn định dạng của IPGR-INIBAP/CIRAD (1996). Chi Musa là genome tương đối nhỏ, kích thước phân tử biến thiên từ 550 đến 750 Mbp/nhiễm sắc thể (Bùi Chí Bửu 2020).
Bệnh héo vàng lá do nấm Fusarium oxysporum f. sp. cubense gây ra, có bản chất lan truyền từ đất. Bộ assemblies của nấm thuộc race 1 có 35 contigs và race 4 nhiệt đới có 29 contigs. Chiều dài contig N50 của race 1 là 2,08 Mb, của race 4 là 4,28 Mb. Hai hệ gen tham chiếu mới này biểu thị một sự cải tiến gấp 100 lần hơn dữ liệu thống kê của contig 50 theo kết quả chạy “short read” trước đây những assemblies của nấm Fusarium oxysporum f. sp. cubense (Ahmad và cs. 2020). Các tác giả đã nghiên cứu mẫu chuối hoang dị hợp tử, tự phối: Musa acuminata ssp. malaccensis (Mam, AA, 2n = 22) để tạo ra quần thể bản đồ và để nghiên cứu di truyền tính kháng bệnh Race 1 và Race 4 (TR4) nhiệt đới. Gen điều khiển tính kháng là đơn gen trội đối với Race 1, bản đồ di truyền cho thấy locus này định vị trên nhiễm sắc thể 10, gần đầu xa nhất của nhiễm sắc thể. Kết quả chạy bản đồ GGT (graphical genotyping), cho thấy những markers kế cận gen đích trong quãng 360 kb liên quan đến tính kháng Race 1. Vùng này có tất cả 165 gen giả định trên hệ gen tham chiếu, bao gồm 19 gen mã hóa LRR (leucine-rich repeat receptor-like kinase). Fusarium oxysporum f. sp. cubense (Foc) là tác nhân hàng đầu gây bệnh héo rũ ở chuối trên toàn cầu, tàn phá các vườn chuối thông qua hoạt động của các yếu tố tác động (effector) do mầm bệnh tiết ra (You và cs. 2026).
Một chủng nấm gây hại cho chuối Cavendish và các loại chuối ăn tươi khác ở vùng nhiệt đới, được gọi là Foc chủng nhiệt đới số 4 (TR4; VCG 01213/16), tại Indonesia, Malaysia, Philippines, Trung Quốc đại lục và Đài Loan, trong hơn ba thập kỷ qua. Thử nghiệm phát sinh bệnh trên cây chuối Cavendish nuôi cấy mô ở giai đoạn sáu lá (tỷ lệ 19:1 cát và bột ngô); cấy các chủng Fusarium riêng biệt thu thập từ Việt Nam. Kết quả xác định các chủng từ Việt Nam là F. oxysporum, trong đó phân tích PCR và VCG cho thấy sáu chủng thuộc nhóm VCG 01213/16 (Hung và cs. 2018).
Mười hai chủng vi khuẩn nội sinh đã được phân lập từ các bộ phận khác nhau của chuối Cavendish thu thập tại một số tỉnh thuộc miền Nam Việt Nam. Trong số đó, ba chủng phân lập thể hiện hiệu quả ức chế cao nhất đối với sự phát triển hệ sợi nấm Foc TR4, với mức ức chế lần lượt là 78,1% (R-BHDN2.2), 66,71% (R-DPBP1.3) và 61,11% (R-TCTV2.3) (Tran và cs. 2026).
Dựa trên dữ liệu siêu phổ thu thập từ các cây chuối con đã được gây nhiễm Fusarium, người ta tích hợp thuật toán di truyền và phương pháp giải thích cộng tính Shapley (GA-SHAP) để lựa chọn dải phổ, qua đó thu được một tập hợp con tinh gọn gồm các dải phổ có ý nghĩa về mặt sinh lý. Yuan và cs. (2026) giám sát được các hệ thống tương tác giữa cây trồng và mầm bệnh khác nhau.
Thông qua các thử nghiệm sinh hóa và giải trình tự gen 16S rDNA, ba chủng phân lập được xác định là Pseudomonas putida R-TCTV2.3, Bacillus amyloliquefaciens R-DPBP1.3 và Bacillus siamensis R-BHDN2.2 đã ức chế đáng kể bệnh héo rũ Fusarium trên chuối Cavendish. Nhóm nghiên cứu của Lê Đình Đôn ghi nhận: tỷ lệ bệnh (26,7%) và chỉ số bệnh (26%) thấp nhất được ghi nhận ở các nghiệm thức xử lý, so với mức tương ứng là 98% và 100% ở các nghiệm thức đối chứng (không xử lý và có lây nhiễm Foc TR4). Hiệu quả kiểm soát sinh học cao nhất đạt mức 73,3% (với chủng B. siamensis R-BHDN2.2) (Tran và cs. 2026).
DNA ngoại bào của thực vật (esDNA) đóng vai trò như một tín hiệu phân tử liên quan đến tổn thương (DAMP). Người ta xác định esDNA là một yếu tố điều hòa then chốt của hệ miễn dịch bẩm sinh của cây chuối. Hu và cs. (2026) đã khảo sát tác động của esDNA có nguồn gốc từ lá chuối bị nhiễm bệnh đối với khả năng kháng bệnh héo rũ Fusarium. Phân tử esDNA thể hiện mô hình điều hòa đặc thù phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của bệnh Fusarium wilt. Phân tử esDNA có lợi giúp giảm hiệu quả sự tích tụ H2O2 và malondialdehyde, đồng thời tăng cường hoạt tính của các enzyme chống oxy hóa và quá trình chuyển hóa phenylpropanoid. Phân tử esDNA làm thay đổi đáng kể sự biểu hiện gen khi bị pathogen kích hoạt. Những thay đổi về phiên mã tương quan với việc giảm tổn thương do oxy hóa và cải thiện sự sinh trưởng của cây. Tác giả khẳng định esDNA đóng vai trò như một tín hiệu DAMP linh hoạt, thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của bệnh. Nghiên cứu đề ra chiến lược đầy hứa hẹn để phát triển các biện pháp phòng trừ bệnh héo rũ Fusarium trên chuối theo hướng bền vững với môi trường (Hu và cs. 2026).
Căn cứ tác hại của côn trùng Cosmopolites sordidus Germar gây hại nghiêm trọng nhất đối với việc sản xuất Chuối tại Colombia, Miranda – Salas và cs. (2026) đã ghi nhận các hồ sơ kiểm dịch thực vật hàng tuần của trang trại chuối trong giai đoạn 2022–2023. Họ phân loại mức độ nhiễm bệnh Fusarium trên chuối: cao (>80 ổ dịch), trung bình (>30–80 ổ dịch) và thấp (<30 ổ dịch). Tại mỗi mức độ nhiễm bệnh, họ lắp đặt 10 bẫy dạng dốc có sử dụng pheromone tập hợp (Cosmolure®) làm mồi nhử, với tổng số 30 bẫy. Số lượng cá thể C. sordidus, tỷ lệ nhiễm bệnh Foc TR4 và các yếu tố khí hậu (lượng mưa, độ ẩm tương đối và nhiệt độ) được ghi nhận hàng tuần trong suốt 49 tuần. C. sordidus xuất hiện trong toàn bộ thời gian đánh giá, với mật độ quần thể dao động từ 1 đến 20 cá thể trên mỗi bẫy mỗi tuần. Quần thể C. sordidus có mối tương quan thuận mạnh mẽ với độ ẩm tương đối và nhiệt độ (p < 0,001), gắn liền chặt chẽ với vòng đời của chúng. Các kiểm định nhân quả Granger (p < 0,001) đã chứng minh rằng có sự gia tăng quần thể C. sordidus diễn ra trước khi xuất hiện các ổ dịch Foc TR4 từ một đến hai tháng (F = 38,22; p < 0,001). Phân tích thống kê cho thấy giải thích được 87,1% sự biến động về tỷ lệ mắc bệnh. Như vậy con C. sordidus đóng vai trò là tác nhân phát tán Foc TR4. Chiến lược phòng ngừa và quản lý con C. sordidus sẽ giúp quản lý bệnh Fusarium wilt trong canh tác chuối (Miranda – Salas và cs. 2026).
Chi Musa có khoảng 75 loài và nhiều dòng vô tính có thể ăn được; xét theo bộ tiêu chuẩn định dạng của IPGR-INIBAP/CIRAD (1996). Chi Musa là genome tương đối nhỏ, kích thước phân tử biến thiên từ 550 đến 750 Mbp/nhiễm sắc thể (Bùi Chí Bửu 2020).
Bệnh héo vàng lá do nấm Fusarium oxysporum f. sp. cubense gây ra, có bản chất lan truyền từ đất. Bộ assemblies của nấm thuộc race 1 có 35 contigs và race 4 nhiệt đới có 29 contigs. Chiều dài contig N50 của race 1 là 2,08 Mb, của race 4 là 4,28 Mb. Hai hệ gen tham chiếu mới này biểu thị một sự cải tiến gấp 100 lần hơn dữ liệu thống kê của contig 50 theo kết quả chạy “short read” trước đây những assemblies của nấm Fusarium oxysporum f. sp. cubense (Ahmad và cs. 2020). Các tác giả đã nghiên cứu mẫu chuối hoang dị hợp tử, tự phối: Musa acuminata ssp. malaccensis (Mam, AA, 2n = 22) để tạo ra quần thể bản đồ và để nghiên cứu di truyền tính kháng bệnh Race 1 và Race 4 (TR4) nhiệt đới. Gen điều khiển tính kháng là đơn gen trội đối với Race 1, bản đồ di truyền cho thấy locus này định vị trên nhiễm sắc thể 10, gần đầu xa nhất của nhiễm sắc thể. Kết quả chạy bản đồ GGT (graphical genotyping), cho thấy những markers kế cận gen đích trong quãng 360 kb liên quan đến tính kháng Race 1. Vùng này có tất cả 165 gen giả định trên hệ gen tham chiếu, bao gồm 19 gen mã hóa LRR (leucine-rich repeat receptor-like kinase). Fusarium oxysporum f. sp. cubense (Foc) là tác nhân hàng đầu gây bệnh héo rũ ở chuối trên toàn cầu, tàn phá các vườn chuối thông qua hoạt động của các yếu tố tác động (effector) do mầm bệnh tiết ra (You và cs. 2026).
Một chủng nấm gây hại cho chuối Cavendish và các loại chuối ăn tươi khác ở vùng nhiệt đới, được gọi là Foc chủng nhiệt đới số 4 (TR4; VCG 01213/16), tại Indonesia, Malaysia, Philippines, Trung Quốc đại lục và Đài Loan, trong hơn ba thập kỷ qua. Thử nghiệm phát sinh bệnh trên cây chuối Cavendish nuôi cấy mô ở giai đoạn sáu lá (tỷ lệ 19:1 cát và bột ngô); cấy các chủng Fusarium riêng biệt thu thập từ Việt Nam. Kết quả xác định các chủng từ Việt Nam là F. oxysporum, trong đó phân tích PCR và VCG cho thấy sáu chủng thuộc nhóm VCG 01213/16 (Hung và cs. 2018).
Mười hai chủng vi khuẩn nội sinh đã được phân lập từ các bộ phận khác nhau của chuối Cavendish thu thập tại một số tỉnh thuộc miền Nam Việt Nam. Trong số đó, ba chủng phân lập thể hiện hiệu quả ức chế cao nhất đối với sự phát triển hệ sợi nấm Foc TR4, với mức ức chế lần lượt là 78,1% (R-BHDN2.2), 66,71% (R-DPBP1.3) và 61,11% (R-TCTV2.3) (Tran và cs. 2026).
Dựa trên dữ liệu siêu phổ thu thập từ các cây chuối con đã được gây nhiễm Fusarium, người ta tích hợp thuật toán di truyền và phương pháp giải thích cộng tính Shapley (GA-SHAP) để lựa chọn dải phổ, qua đó thu được một tập hợp con tinh gọn gồm các dải phổ có ý nghĩa về mặt sinh lý. Yuan và cs. (2026) giám sát được các hệ thống tương tác giữa cây trồng và mầm bệnh khác nhau.
Thông qua các thử nghiệm sinh hóa và giải trình tự gen 16S rDNA, ba chủng phân lập được xác định là Pseudomonas putida R-TCTV2.3, Bacillus amyloliquefaciens R-DPBP1.3 và Bacillus siamensis R-BHDN2.2 đã ức chế đáng kể bệnh héo rũ Fusarium trên chuối Cavendish. Nhóm nghiên cứu của Lê Đình Đôn ghi nhận: tỷ lệ bệnh (26,7%) và chỉ số bệnh (26%) thấp nhất được ghi nhận ở các nghiệm thức xử lý, so với mức tương ứng là 98% và 100% ở các nghiệm thức đối chứng (không xử lý và có lây nhiễm Foc TR4). Hiệu quả kiểm soát sinh học cao nhất đạt mức 73,3% (với chủng B. siamensis R-BHDN2.2) (Tran và cs. 2026).
DNA ngoại bào của thực vật (esDNA) đóng vai trò như một tín hiệu phân tử liên quan đến tổn thương (DAMP). Người ta xác định esDNA là một yếu tố điều hòa then chốt của hệ miễn dịch bẩm sinh của cây chuối. Hu và cs. (2026) đã khảo sát tác động của esDNA có nguồn gốc từ lá chuối bị nhiễm bệnh đối với khả năng kháng bệnh héo rũ Fusarium. Phân tử esDNA thể hiện mô hình điều hòa đặc thù phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của bệnh Fusarium wilt. Phân tử esDNA có lợi giúp giảm hiệu quả sự tích tụ H2O2 và malondialdehyde, đồng thời tăng cường hoạt tính của các enzyme chống oxy hóa và quá trình chuyển hóa phenylpropanoid. Phân tử esDNA làm thay đổi đáng kể sự biểu hiện gen khi bị pathogen kích hoạt. Những thay đổi về phiên mã tương quan với việc giảm tổn thương do oxy hóa và cải thiện sự sinh trưởng của cây. Tác giả khẳng định esDNA đóng vai trò như một tín hiệu DAMP linh hoạt, thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của bệnh. Nghiên cứu đề ra chiến lược đầy hứa hẹn để phát triển các biện pháp phòng trừ bệnh héo rũ Fusarium trên chuối theo hướng bền vững với môi trường (Hu và cs. 2026).
Căn cứ tác hại của côn trùng Cosmopolites sordidus Germar gây hại nghiêm trọng nhất đối với việc sản xuất Chuối tại Colombia, Miranda – Salas và cs. (2026) đã ghi nhận các hồ sơ kiểm dịch thực vật hàng tuần của trang trại chuối trong giai đoạn 2022–2023. Họ phân loại mức độ nhiễm bệnh Fusarium trên chuối: cao (>80 ổ dịch), trung bình (>30–80 ổ dịch) và thấp (<30 ổ dịch). Tại mỗi mức độ nhiễm bệnh, họ lắp đặt 10 bẫy dạng dốc có sử dụng pheromone tập hợp (Cosmolure®) làm mồi nhử, với tổng số 30 bẫy. Số lượng cá thể C. sordidus, tỷ lệ nhiễm bệnh Foc TR4 và các yếu tố khí hậu (lượng mưa, độ ẩm tương đối và nhiệt độ) được ghi nhận hàng tuần trong suốt 49 tuần. C. sordidus xuất hiện trong toàn bộ thời gian đánh giá, với mật độ quần thể dao động từ 1 đến 20 cá thể trên mỗi bẫy mỗi tuần. Quần thể C. sordidus có mối tương quan thuận mạnh mẽ với độ ẩm tương đối và nhiệt độ (p < 0,001), gắn liền chặt chẽ với vòng đời của chúng. Các kiểm định nhân quả Granger (p < 0,001) đã chứng minh rằng có sự gia tăng quần thể C. sordidus diễn ra trước khi xuất hiện các ổ dịch Foc TR4 từ một đến hai tháng (F = 38,22; p < 0,001). Phân tích thống kê cho thấy giải thích được 87,1% sự biến động về tỷ lệ mắc bệnh. Như vậy con C. sordidus đóng vai trò là tác nhân phát tán Foc TR4. Chiến lược phòng ngừa và quản lý con C. sordidus sẽ giúp quản lý bệnh Fusarium wilt trong canh tác chuối (Miranda – Salas và cs. 2026).
.png)
Hình: Bọ cánh cứng Cosmopolites sordidus là vector truyền bệnh Fusarium trên chuối ở Nam Mỹ (Miranda – Salas và cs. 2026).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ahmad F, Martawi NM, Poerba YS, de Jong H, Schouten H, Kema GHJ. 2020. Genetic mapping of Fusarium wilt resistance in a wild banana Musa acuminata ssp. malaccensis accession. Theoretical and Applied Genetics (published on-line, Sept 2020) https://doi.org/10.1007/s00122-020-03677-y
Bui Chi Buu. 2020. Cây chuối – Hệ Gen – Di truyền và Chọn giống. Tổng quan. Viện KHKTNN Miền Nam. Bản Tin Khoa Học ngày 19-10-2020 (http//:iasvn.org)
Hu Y, Wei D, Wang J, Li J, Fan PS, Ruan Y. 2026. Differential Immune Priming Effects of Banana Extracellular Self-DNA Derived from Bananas with Varying Disease Severities Against Fusarium oxysporum f. sp. cubense Tropical Race 4. J. Fungi 2026, 12(6), 438; https://doi.org/10.3390/jof12060438
Hung TN, Hung NQ, Mostert D, Viljoen A, Chao C. P, and Molina A. B. 2026. First Report of Fusarium Wilt on Cavendish Bananas, Caused by Fusarium oxysporum f. sp. cubense Tropical Race 4 (VCG 01213/16), in Vietnam. Plant Disease 102 (2). https://doi.org/10.1094/PDIS-08-17-1140-PDN
Liqian You, Jiahui Wu, Wenjing Chen, Xiaoyi Li, Yinghua Huang, Mei Luo, Kan Zhuo, Tom Hsiang, Handa Song, Zhangyong Dong. 2026. Fusarium oxysporum f. sp. cubense Race 4 Effector, Foc4-305, Targets a Proline-Rich Protein in Banana and Contributes to Virulence. J. Agric. Food Chem. [on line March 19 2026] 74 (12): 10115–10128.
Miranda-Salas TC, Olivares BO, León-Pacheco RI, Betancourt-Vásquez M, Torrado-León E, Angel-García C, Gonzalez-Ulloa A, Rodríguez-Yzquierdo GA. 2026. Cosmopolites sordidus G. as a dispersal agent of Fusarium oxysporum f. sp. cubense Tropical Race 4 (Foc TR4) in Cavendish banana crops (Musa AAA). Fungal Biology; Available online 28 May 2026
Tran VT, Hang T Ly, Don D Le, Trang Phan. 2026. Evaluation of the potential of endophytic bacteria isolated from Cavendish banana to control Fusarium wilt caused by Fusarium oxysporum f. sp. cubense TR4 in southern Vietnam. Bioscience Control and Technology; Pages 968-997; Published online: 06 Jun 2026. https://doi.org/10.1080/09583157.2026.2683603
Yuan HT, Duan JL, Ke WG, Feng SJ, Huang CW, Jiang WL, Xiang DD, Yang Z. 2026. Early detection of banana fusarium wilt caused by Fusarium oxysporum f. sp. cubense using hyperspectral with a metric learning strategy. Pest Management Science - First published: 19 January 2026 https://doi.org/10.1002/ps.70561
Bui Chi Buu. 2020. Cây chuối – Hệ Gen – Di truyền và Chọn giống. Tổng quan. Viện KHKTNN Miền Nam. Bản Tin Khoa Học ngày 19-10-2020 (http//:iasvn.org)
Hu Y, Wei D, Wang J, Li J, Fan PS, Ruan Y. 2026. Differential Immune Priming Effects of Banana Extracellular Self-DNA Derived from Bananas with Varying Disease Severities Against Fusarium oxysporum f. sp. cubense Tropical Race 4. J. Fungi 2026, 12(6), 438; https://doi.org/10.3390/jof12060438
Hung TN, Hung NQ, Mostert D, Viljoen A, Chao C. P, and Molina A. B. 2026. First Report of Fusarium Wilt on Cavendish Bananas, Caused by Fusarium oxysporum f. sp. cubense Tropical Race 4 (VCG 01213/16), in Vietnam. Plant Disease 102 (2). https://doi.org/10.1094/PDIS-08-17-1140-PDN
Liqian You, Jiahui Wu, Wenjing Chen, Xiaoyi Li, Yinghua Huang, Mei Luo, Kan Zhuo, Tom Hsiang, Handa Song, Zhangyong Dong. 2026. Fusarium oxysporum f. sp. cubense Race 4 Effector, Foc4-305, Targets a Proline-Rich Protein in Banana and Contributes to Virulence. J. Agric. Food Chem. [on line March 19 2026] 74 (12): 10115–10128.
Miranda-Salas TC, Olivares BO, León-Pacheco RI, Betancourt-Vásquez M, Torrado-León E, Angel-García C, Gonzalez-Ulloa A, Rodríguez-Yzquierdo GA. 2026. Cosmopolites sordidus G. as a dispersal agent of Fusarium oxysporum f. sp. cubense Tropical Race 4 (Foc TR4) in Cavendish banana crops (Musa AAA). Fungal Biology; Available online 28 May 2026
Tran VT, Hang T Ly, Don D Le, Trang Phan. 2026. Evaluation of the potential of endophytic bacteria isolated from Cavendish banana to control Fusarium wilt caused by Fusarium oxysporum f. sp. cubense TR4 in southern Vietnam. Bioscience Control and Technology; Pages 968-997; Published online: 06 Jun 2026. https://doi.org/10.1080/09583157.2026.2683603
Yuan HT, Duan JL, Ke WG, Feng SJ, Huang CW, Jiang WL, Xiang DD, Yang Z. 2026. Early detection of banana fusarium wilt caused by Fusarium oxysporum f. sp. cubense using hyperspectral with a metric learning strategy. Pest Management Science - First published: 19 January 2026 https://doi.org/10.1002/ps.70561





.png)









