Trang Chủ >> TIN TỨC » TIN KHOA HỌC THẾ GIỚI
BẢN TIN KHOA HỌC TUẦN LỄ 04 THÁNG 05 ĐẾN 10 THÁNG 05 NĂM 2020
 

BẢN TIN KHOA HỌC HÀNG TUẦN

1. Chống chịu mặn ở giai đoạn nẩy mầm và giai đoạn cây con của cỏ ba lá

Nguồn: Mbarki S, Skalicky M, Vachova P, Hajihashemi S, Jouini L, Zivcak M, Tlustos P, Brestic M, Hejnak V, Khelil AZ. 2020. Comparing Salt Tolerance at Seedling and Germination Stages in Local Populations of Medicago ciliaris L. to Medicago intertexta L. and Medicago scutellata L. Plants (Basel).2020 Apr 19;9(4). pii: E526. doi: 10.3390/plants9040526.
 
 
     Stress do mặn là một trong những vấn đề nghiêm trọng của môi trường bên ngoài đối với năng suất cây  trồng. Medicago ciliaris là một loài cỏ họ Đậu trong chăn nuôi mà tính thích nghi của nó với các điều kiện khí hậu canh nông chưa được nghiên cứu đầy đủ. Nghiên cứu này tập trung vào khả năng chống chịu mặn của M. ciliaris so với cây M. intertextaM. scutellata về tăng trưởng thực vật, sinh lý thực vật và sinh hóa. Chống chịu mặn được xác định ở cả hai giai đoạn nẩy mầm và cây con. Tỷ lệ nẩy mầm và xét nghiệm trong điều kiện thủy sinh (hydroponic assays) được thực hiện ở hạt nẩy mầm trong dung dịch dinh dưỡng cộng thêm 0, 50, 100, 150, và 200 mM NaCl. Bảy giống cỏ M. ciliaris được nghiên cứu, giống Pop1, 355, và 667 có mức chống chịu khá nhất. Quần thể 355667 biểu thị tính chống chịu mặn đáng kể ở cả hai giai đoạn nói trên (TI ≤1, SI(FGP) > 0 tăng FGP 20% và SI(DW) < 0 (DW giảm ≤ 20%); 073 nồng độ 100 mM); trong khi quần thể Pop1 chống chịu mặn tốt nhất ở giai đoạn cây con (TI =1.79, SI(FGP) < 0 giảm FGP ≤ 40% và tăng DW lên đến 79%); ở nồng độ 50 mM NaCl). Các giống cỏ 306, 773, và M. scutellata, chống chịu trung bình với mặn tùy theo nồng độ mặn xử lý. Kết quả nghiên cứu này có thể là chiến lược nghiên cứu khao thác biến thiên di truyền cỏ ba lá đối với phản ứng chống chịu mặn của cây. Phương pháp tiếp cận ấy cho phép người ta tiến hành chọn lọc các tính trạng mong muốn, giúp nhà chọn giống áp dụng có hiệu quả tìm kiếm quần thể cỏ ba lá M. ciliaris chịu mặn tốt.
 
2. Nghiên cứu môi trường tốt cho đậu nành nẩy mầm
 
Nguồn: Eum HL, Park Y, Yi TG, Lee JW, Ha KS, Choi IY, Park NI. 2020. Effect of germination environment on the biochemical compounds and anti-inflammatory properties of soybean cultivars. PLoS One.2020 Apr 27; 15(4): e0232159. doi: 10.1371/journal.pone.0232159. eCollection 2020.
 
 
     Người ta tiến hành nghiên cứu những thay đổi của hàm lượng isoflavone, hàm lượng phenolic tổng số (TPC), hàm lượng flavonoid tổng số (TFC), hoạt tính chất antioxidant (DPPH, ABTS), và hoạt tính chất anti-inflammatory của các giống đậu nành được gieo hạt trên mô hẹp và qui mô rộng đại trà khi hạt đang nẩy mầm (điều kiện chiếu sáng / tối). Hàm lượng isoflavone tổng số cao hơn ở giai đoạn hạt khi gieo hạt đậu nành đại trà, khi ấy, nó tăng lên sau 7 ngày hạt nẩy mầm ở nghiệm thức gieo hạt qui mô hẹp, đặc biệt là khi phản ứng với điều kiện có chiếu sáng, chúng biểu hiện rất cao các thông số TPC, TFC, và hoạt tính antioxidant. Trong nghiệm thức đậu nành gieo hạt đại trà, môi trường để hạt nẩy mầm không ảnh hưởng đáng kể đến thông số TFC hoặc ức chế DPPH, trong khi đó, thông số TPC và sự ức chế ABTS khá cao trong nghiệm thức xử lý nẩy mầm trong bóng tối. Tách chiết dịch từ hạt nẩy mầm biểu hiện hoạt tính anti-inflammatory tối đa. Việc sản sinh ra nitric oxide hơi thấp trong điều kiện gieo hạt qui mô hẹp và đại trà dưới điều kiện chiếu sáng và bóng tối, theo thứ tự. Kết quả nghiên cứu này khẳng định đậu nành nẩy mầm cải tiến dinh dưỡng, làm tăng cường các hoạt động sinh học (bioactivity) trong điều kiện môi trường khác nhau cho nẩy mầm; điều này có thể góp phần vào nội dung chọn lọc các giống đậu nành mong muốn.
 
3. Mô phỏng năng suất của bắp và đậu nành ở Ontario, Canada
 
Nguồn: Xu Q, Fox G, McKenney DW, Parkin G, Li Z. 2020. A Bio-Economic Crop Yield Response (BECYR) Model for Corn and Soybeans in Ontario, Canada for 1959-2013. Sci Rep.2020 Apr 24;10(1):7006. doi: 10.1038/s41598-020-63765-3.
 
 
     Biến đổi khí hậu là chủ đề đã và đang được thảo luận nghiêm túc, ảnh hưởng của nó với sản lượng cây trồng được chú ý đặc biệt. Giảm năng suất cây trồng do biến đổi khí hậu trong một vài vùng nông nghiệp đã được quan tâm đặc biệt. Nhiều nghiên cứu dự báo ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến năng suất cây trồng như thế nào. Các mô phỏng toán học này (models) bao gồm những biến số phản ánh những ảnh hưởng của thời tiết, kỹ thuật, chất lượng độ phì nhiêu của đất. Nhiều mô phỏng ấy vẫn chưa bao gồm giá cả chi phí, trữ lượng nước ngầm, nồng độ CO2. Người ta so sánh các biến số bao gồm biến số đã được nghiên cứu trước đó (econometric crop yield modelling) đối với bắp và đậu nành; với những biến số bổ sung của nghiên cứu này. Công trình khoa học dự đoán ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với năng suất cây cho hạt bắp và đậu nành tại Ontario, Canada, giai đoạn 1959-2013. Người ta có thể sử dụng cơ sở dữ liệu ấy một cách đầy hiểu biết hơn với các biến số có thể giải thích được so với những kết qủa trước đó. Mô phỏng của các tác giả bài viết này bao gồm các biến số về khí hậu, chi phó giá cả, chất lượng đất, trữ lượng nước ngầm, nồng độ CO2, và xu hướng theo thời gian diễn biến ra sao. Kết quả cho thấy rằng: nhiệt độ và mưa có xu hướng diễn biến ra sao theo thời gian; tuy chưa thật đầy đủ theo nội dung hiểm họa bởi biến đổi khí hậu đối với năng suất cây trồng của vùng Ontario.
 
4. Giải trình tự hệ gen vi khuẩn Aeribacillus pallidus PI8.
 
Kita K, Ishida A, Tanaka K, Ishikawa S, Yoshida KI. Complete Genome Sequence of Thermophilic Bacterium Aeribacillus pallidus PI8.
 
     Đây là công trình khoa học giải mã trình tự DNA của toàn bộ hệ gen vi khuẩn Aeribacillus pallidus PI8, một loài vi khuẩn có tính chất thermophilic. Nó được phân lập từ dịch tách chiết thân cây đậu nành. Trình tự DNA được xác định nhờ Illumina và Nanopore sequencers. Những phân tích tin sinh học genome này cho thấy sự có mặt của chùm gen “bacteriocin”. Vi khuẩn Aeribacillus pallidus là vi khuẩn Gram dương, hảo khí, có tính chất “endospore-forming thermophilic” mà trước đó người ta định danh từ chi Geobacillus (phylum Firmicutes, họ Bacillaceae). Các nhà khoa học đã vô cùng phấn khích về một loài vi khuẩn thermophilic chưa được biết này, chúng được tìm thấy trong xử lý tách chiết nước nóng dịch thân cây đậu nành; mà cây đậu nành như vật được thu hoạch tại Nakasatsunai, Hokkaido, Nhật Bản. Người ta phân lập nó là một chủng nòi (strain) mới của vi khuản  A. pallidus như đã nêu trên.
 
 
 
 
Các bài viết khác
Video Clip
Thống kê lượt truy cập
số người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cập
số người truy cậpHôm nay:332
số người truy cậpHôm qua:333
số người truy cậpTuần này:1165
số người truy cậpTháng này:1165
số người truy cậpTất cả:397723
số người truy cậpĐang trực tuyến:32