Trang Chủ >> HOẠT ĐỘNG » NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ CAO KHẮC PHỤC COVID 19 CHO ĐBSCL TỪ NĂM 2021-2025
21/07/2020 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 149
 
GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ CAO KHẮC PHỤC COVID 19 CHO ĐBSCL TỪ NĂM 2021-2025
Nguyễn thị Lang
Viện Nghiên Cứu Nông nghiệp Công nghệ Cao ĐBSCL
 
          Đời sống xã hội ở Đồng bằng sông Cửu Long gắn liền với con nước thủy triều và được gọi là một nền văn minh sông nước. Hơn 200 năm qua con người đã thay đổi toàn bộ cảnh quan từ việc giải tỏa đất đai, xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ thống nước, đã biến nơi này thành một vùng nông nghiệp sông nước. Những vùng đất mới đã phát triển mạnh nền sản xuất lúa gạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long và nông dân trong vùng này đã phát triển hệ thống sản xuất với hiệu quả cao nhờ chọn lọc canh tác các giống ngắn ngày năng suất cao và các cây ăn trái. Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long có hai vụ lúa trong năm nhưng cũng có một số vùng trồng ba vụ. Lúa cũng được trồng luân canh với các loại cây trồng khác, ở những khu vực ven biển lúa được trồng vào mùa mưa, và khi đến mùa khô người ta sử dụng các ruộng lúa này để nuôi tôm. Cây ăn trái quanh năm phù hợp với Đồng bằng sông Cửu Long. Hiện nay Viện HATRI đã và đang chọn tạo đáp ứng cho dân ĐBSCL về cây ăn trái (Hình Poster 1).
          
          ĐBSCL có thể được chia thành 3 khu vực nông nghiệp thủy lợi, vùng được phân chia tùy theo loại đất. Thời vụ của lúa khác nhau  từ vùng này sang vùng khác và bị ảnh hưởng nhiều bởi nguồn thủy lợi, đặc biệt là lũ lụt, nguồn nước và độ mặn của nước. 
 
   Khu vực 1: Khu vực bị ngập sâu (An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp và một phần của Cần Thơ ). Thời vụ gieo trồng được xác định bởi chế độ nước của sông Mekong. Trong hai thập kỷ qua người nông dân đã thay đổi lịch gieo trồng để tránh lũ lụt. Tiến hành xuống giống lúa vào mùa khô, và đầu mùa mưa, trước khi nước lũ tràn về. Về cơ sở hạ tầng (đê bao, đê lấn biển và kênh mương) ở khu vực đất ruộng và cả khu sinh sống cộng đống cũng đã được xây dựng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các thời vụ gieo trồng. Hiện nay cây ăn trái và rau màu đã được chuyển đổi cho phù hợp trong giai đoạn.
 
   Khu vực 2a: Khu vực trung gian/đất phù sa (Cần thơ, Vĩnh Long, một phần của An Giang, Hậu Giang và Tiền Giang). Sản xuất trên đất phù sa là nơi cung cấp lúa gạo chủ chốt của ĐBSCL, đặc biệt là thị trường xuất khẩu, vì thế nếu có biến đổi nhỏ sẽ gây tác động mạnh đến nền kinh tế, cây ăn trái như sầu riêng, chôm chôm, mít, vú sữa đang phát triển.
 
   Khu vực 2b: Khu vực trung gian/ đất phèn (Long An, Hậu Giang). Đất acid sulfat (ASS) được phân bố rộng ở vùng ĐBSCL bởi vì là vùng đã từng bị nước biển xâm nhập. Nông nghiệp của vùng này chủ yếu phụ thuộc vào thủy triều và hệ thống thủy lợi; ASS thường tập trung ở khu vực bị nhiễm mặn như là vùng bán đảo Cà Mau.
 
   Khu vực 3: Khu vực bị nhiễm mặn (Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Kiên Giang và Cà Mau). Sự nhiễm mặn gây ảnh hưởng đến một vùng rộng lớn (khoảng 40 km từ biển) dọc theo bờ biển của ĐBSCL. Có nhiều dự án quản lý nước được thực hiện trong hai thập kỉ qua với mục đích (i) điều khiển độ mặn trong suốt mùa khô, (ii) cung cấp nước từ thượng nguổn để tưới tiêu. Hiện nay những khu vực nằm ngoài quy mô của dự án quản lý nước chủ yếu là nuôi tôm nước lợ. Các khu cồn cát cần chuyển đổi cây trồng cơ cấu cây màu phục vụ cho đất khô hạn (Hình Poster 2).
 
          Lợi thế so sánh của Việt Nam đã và đang được chứng minh trong sản xuất nông nghiệp, với 60 triệu người đang sinh sống ở khu vực nông thôn, lao động trong lĩnh vực nông nghiệp. Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng nhì thế giới. Việt Nam đã từng chiếm lĩnh thị trường thế giới về thanh long xuất khẩu, hạt điều; có thứ hạng cao trong xuất xuất khẩu cá ba sa, cá tra, tôm, cao su, chè. Kết qủa hiển nhiên này cho thấy thực tế về thế mạnh của Việt Nam đang nằm ở lĩnh vực nông nghiệp. Nếu chúng ta không có tiềm năng mạnh như vậy thì ít nhất các nước khác cũng đã buông “mảng nông nghiệp” cho chúng ta. Hãy khai thác trọn chuỗi giá trị nông nghiệp mang lại. Đó là đầu tư vào công nghệ sinh học, công nghiệp sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu, công nghiệp chế tạo máy móc nông nghiệp, công nghiệp thủy lợi, công nghiệp chế biến nông sản. Các ngành kinh tế khác như phần mềm, ô tô, hóa dầu, bán lẻ, tiếp thị,... nên hướng vào phục vụ nông nghiệp, khai thác tối đa lợi thế so sánh của chúng ta trong qúa trình hội nhập ban đầu.
 
Một số hình ảnh mà viện Nghiên Cứu Nông Nghiệp công nghệ cao phát triển trong ba năm 2017-2020 và tiến tới phụ vụ cây giống cho nông dân ĐBSCL và cả nước.
 
Poster 1
 
 
 
  
 
Poster 2
 
 
 
 
 
Các bài viết khác
Video Clip
Thống kê lượt truy cập
số người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cậpsố người truy cập
số người truy cậpHôm nay:123
số người truy cậpHôm qua:513
số người truy cậpTuần này:1597
số người truy cậpTháng này:10198
số người truy cậpTất cả:461287
số người truy cậpĐang trực tuyến:25